Hoa hướng dương và hoa gạo có chữa bệnh được không?

0

Về mặt dược lý, dịch chiết nước từ cụm hoa hướng dương gồm đế hoa, đài hoa và cánh hoa có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng này do thuốc làm giãn mạch ngoại vi từ từ và kéo dài, làm giảm sức cản thành mạch và giảm nhịp tim.

1. HOA HƯỚNG DƯƠNG

Hoa hướng dương (Helianthus annuus L.), thuộc họ cúc, tên khác là cây quỳ, hoa mặt trời. Mùa hoa tháng 5-7; Mùa quả tháng 8-10.

Hoa hướng dương chứa b-caroten, cryptoxanthin, taraxanthin, lutein, quercimeritrin. Lá chứa 92,2-156,3mg% acid ascorbic, 0,11% caroten, acid citric, melic, succinic, Hạt hướng dương có 13,81% protein, 22,2-36,5% dầu béo, 0,31% monosaccha- rid, 3,91% saccharose, 0,23% lecithin, 0,15% cholesterol. Dầu ép từ hạt có màu vàng nhạt, vị ngọt dịu, mùi dễ chịu, chứa các acid béo (acid myristic, palmitic, linoleic), các vitamin A, D, E.

Về mặt dược lý, dịch chiết nước từ cụm hoa hướng dương gồm đế hoa, đài hoa và cánh hoa có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng này do thuốc làm giãn mạch ngoại vi từ từ và kéo dài, làm giảm sức cản thành mạch và giảm nhịp tim.

Hoa hướng dương có vị hơi ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng tùy theo bộ phận dùng: cụm hoa hạ huyết áp, giảm đau; rễ và lõi thân lợi tiểu, chống ho; lá tiêu viêm, giảm đau; hạt làm se, bổ cho dịch thể.

Một số bài thuốc từ hoa hướng dương:

*   Hoa hướng dương chữa tăng huyết áp, đau đầu, choáng váng, ù tai, đau bụng, đau gan, đau khớp, viêm vú, thở khó khò. Ngày dùng 30-90g, sắc uống.

*   Trị tăng huyết áp: Hoa hướng dương 60g phối hợp với râu ngô 30g, sắc với 400ml nước còn 100ml, thêm đường, uống làm hai lần trong ngày.

Rễ và lõi thân hướng dương chữa đau đường tiết niệu, sỏi bàng quang, đái ra dưỡng chấp, ho, ho gà, viêm phế quản. Ngày: 15-30g sắc uống.

Lá hướng dương chữa sốt, sốt rét. Ngày dùng 20- 40g sắc uống.

Hạt hướng dương chữa mệt mỏi, chán ăn, kiết lỵ ra máu, sởi phát ban. Ngày dùng 20-30g rang chín rồi ăn nhân.

Hoa hướng dương và hoa gạo chữa bệnh ra sao

2. HOA GẠO

Cây gạo còn gọi bỏng gạo, mộc miên… là loại cây to cao tới 14-15m và hơn nữa, mọc hoang ở trong rừng, hoặc trồng ở ven đường lấy bóng mát, tại nhiều tỉnh nước ta. Lá kép chân vịt với 5-8 lá chét hình mác hay hình trứng, dài 9-15cm, rộng 4-5cm, sớm rụng. Hoa đỏ, nhiều, mọc trên những cành nhỏ trước khi có lá non; vào các tháng 3-5 hoa gạo nở rộ đỏ rực màu lửa báo hiệu mùa hè tới.

Một số bài thuốc từ hoa gạo:

Vị đắng, chát, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng làm se, thu sáp, sát khuẩn, tiêu viêm, thông huyết. Người ta thường nhặt những hoa gạo mới rụng, còn nguyên vẹn chưa giập nát, đem về ngắt từng cánh hoa dùng tươi, hoặc phơi nắng nhẹ hay sấy nhỏ lửa cho khô để dùng dần.

*   Chữa mụn nhọt sưng tấy: Dùng hoa gạo tươi, giã nát, đắp vào nơi nhọt sưng, ngày làm 1-2 lần sẽ hết đau nhức, giảm sưng, mau khỏi.

*   Chữa tiêu chảy, kiết lỵ: Hoa gạo 20-30g thái mỏng, sao vàng, sắc với 2 bát nước còn nửa bát, chia làm 2 lần uống trong ngày. Hoặc có thể phối hợp với rau má (lượng bằng nhau) thái nhỏ, phơi khô, sắc như trên, khi uống có thể thêm ít đường, chia làm 2 lần uống trong ngày.

Vỏ cây gạo: Trong vỏ cây có chất nhày. Dân gian thường dùng vỏ tươi cây gạo đem giã nát, bó vào nơi gãy xương. Hoặc dùng 15-20g vỏ cây gạo sao vàng, sắc đặc làm thuốc uống cầm máu, thông tiểu tiện và dùng ngậm chữa đau răng.

Hạt gạo: Trong hạt gạo có 20-25% chất dầu đặc màu vàng. Phụ nữ sau khi sinh con, ít sữa, dùng 12- 15g hạt gạo sắc uống làm cho ra sữa.

Tầm gửi cây gạo: Tầm gửi là loài cây bán ký sinh, có ở nhiều cây chủ (mít, bưởi, na, chanh…) nhưng mấy năm gần đây đặc biệt thời sự, là tầm gửi cây gạo: trong nhân dân có nhiều người cho rằng tầm gửi cây gạo có công dụng giải nhiệt, điều hòa huyết áp và tốt cho người bệnh gan, thận… có nhiều người săn tìm mua làm thuốc.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng