Tư vấn cách điều trị bệnh lao hiệu quả mà đơn giản

0
Cập nhật lần cuối

Kết hợp sa sâm 9g, Tử uyển 12g, cát cánh 9g, chích cam thảo 6g, hạnh nhân 9g, bách bộ 9g, hạ khô thảo 12g,trần bì 9g, bán hạ 9g, bạch cập 15g, sơn dược 24g, bạch truật 9g, kê nội kim 12g, bạch đậu khấu 9g, đương quy 9g, sa toan táo nhân 18g, chích tang bì 9g. Sắc uống 2 lần, trộn đều chia 2 lần uống, mỗi ngày 1 thang giúp trị bệnh lao phổi thâm nhiễm

1. Lao phổi thâm nhiễm

Bin chứng đông y:

Tỳ phế lưỡng hư, huyết ứ đờm kết.

Cách trị:

Ính phế kiện tỳ, hành ứ hóa đờm tán kết.

Đơn thuốc:

1.1 Gia vị ích phế thang.

Sa sâm 9g, Tử uyển 12g, Cát cánh 9g, Chích cam thảo 6g, Hạnh nhân 9g, Bách bộ 9g, Hạ khô thảo 12g, Trần bì 9g, Bán hạ 9g, Bạch cập 15g, Sơn dược 24g, Bạch truật 9g, Kê nội kim 12g, Bạch đậu khấu 9g, Đương quy 9g, Sa toan táo nhân 18g, Chích tang bì 9g.

Sắc uống 2 lần, trộn đều chia 2 lần uống, mỗi ngày 1 thang.

Xem thêm: Chế độ ăn uống của người bị bệnh tiêu chảy

1.2: Phế kết hạch lưu tẩm cao:

Hạ khô thảo 240g, ích mẫu thảo 90g, Đương quy 45g, Cát cánh 90g, Sa sâm 90g, Trần bì 45g, Đan sâm 60g, Bách hợp 45g, Bán hạ 45g. Sắc 3 lần lọc lấy nước, cho thêm Bạch chỉ 150g, Phê sương 60g, Đường đỏ 120g.

Đun nhỏ lửa thành cao lỏng. Mỗi lần uống 20ml, ngày 3 lần.

Hiệu quả lâm sàng:

Một bệnh nhân nữ, 25 tuổi. Sơ chẩn ngày 25 – 2 – 1959. Cách đây 1 năm ho ra đờm, ăn không ngon miệng, mệt mỏi mất sức, dần dần gầy rộc đi, có lúc hơi đau ngực, ngủ kém, kinh nguyệt chậm hơn 10 ngày, ba tháng nay lại mất kinh.

Đã đến bệnh viện chụp X – quang, chẩn đoán là lao phổi thâm nhiễm. Hiện tại bệnh nhân hoàn toàn nghỉ ở nhà, hơn 1 tháng liền uống Rimifon, tự cảm thấy bệnh không có biến chuyển rõ rệt, tới xin điều trị.

Phương pháp điều trị một số bệnh lao thường gặp

Phương pháp điều trị một số bệnh lao thường gặp

Khám thấy người bệnh thân thể gầy gò, chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch trầm tế. Cho dùng bài “Gia vị ích phế thang” và “Phế kết hạch lưu tẩm cao”.

Đồng thời yêu cầu bệnh nhân tiếp tục uống Rimifon phối hợp, mỗi ngày 400mg để đẩy nhanh quá trình điều trị bệnh lao phổi thâm nhiễm.

Uống được hơn 30 thang và 2 liều cao lỏng thì người bệnh ăn uống nhiều hơn, cảm thấy có sức, thể trọng tăng lên, các chứng ho, khạc đờm mất hẳn, kinh nguyệt trở lại gần như bình thường.

Ngày 9 tháng 5 tới thăm lại thì bệnh nhân đã trở lại công tác được hơn nửa tháng, nhưng vẫn khuyên nên tiếp tục uống bài thuốc trên.

Lần sau tới thăm bệnh được biết sau khi tiếp tục uống thuốc, vào tháng 7 có đi chiếu X – quang thấy các ổ lao đã khỏi hẳn, kinh nguyệt đã trở lại hoàn toàn bình thường.

2. Lao phổi ho ra máu

Bin chứng đông y:

Nhiệt tà phạm phế, ứ huyết làm tắc kinh lạc, không khử được ứ thì kinh lạc không yên.

Cách trị:

Hóa ứ Kinh lạc.

Đơn thuốc:

Bạch hoàng tứ vị tán.

Công thức:

Bạch cập 4 phần, Sinh đại hoàng 3 phần, Nhi trà 2 phần, Bạch phàn 1 phần. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống lg, ngày uống 4 lần.

Hiu quả lâm sàng:

Một bệnh nhân nữ, 45 tuổi. Vì bị lao phổi nên từ 1 tháng trước đờm có máu tươi. Đã dùng thuốc đông y và tiêm thuốc tây y để cầm máu nhưng đều không có hiệu quả. Sau khi chẩn đoán cho dùng “Bạch hoàng tứ vị tán” 5 ngày sau hết hẳn ra máu.

Bàn luận:

“Bạch hoàng tứ vị tán” ngoài việc dùng để điều trị lao phổi ho ra máu, còn có thể dùng để điều trị giãn phế quản ho ra máu, cũng thu được kết quả tốt.

3. Lao ruột

Biện chứng đông y:

Tỳ vị hư hàn, thận dương cũng hư.

Cách trị:

Bổ tỳ vị, ôn trung trợ dương sáp tràng.

Đơn thuc:

Gia vị tam vị chỉ tả tán.

Công thức:

Sơn dược 150g, Kha tử nhục 60g, thạch lựu bì 60g, Nhục quế 30g, Nhục đậu khấu (Nhục đậu khấu nướng bằng tro nóng) 30g.

Tất cả đem tán bột mịn, mỗi ngày dùng ba lần, mỗi lần 4,5g uống bằng nước đun sôi để nguội, khi đói. Kiêng ăn các thức tanh lạnh, sống cứng.

Hiu quả lâm sàng:

Một bệnh nhân nam, 45 tuổi, giáo viên. Đến khám ngày 14/7/1960. Bệnh nhân đi ngoài lỏng đã hơn 1 năm, triệu chứng chủ yếu là hàng ngày sáng sớm sôi bụng đi lỏng 4 – 5 lần, đi ra những thức ăn không tiêu, bụng đau quặn âm ỉ phải lấy tay ấn vào mới chịu được, ăn kém, người mệt mỏi, đau lưng đùi nhão, bụng và chân tay lạnh, người gầy gò, mặt xanh tái, rêu trắng, lưỡi nhạt, mạch trầm tế.

Tây y kiểm tra chiếu X – quang với barisunfat dạ dày ruột, chẩn đoán là lao ruột. Chứng này thuộc về tỳ vị hư hàn, thận dương hư trị bằng các bổ tỳ vị, ôn trung trợ dương sáp tràng.

Cho dùng “Gia vị tam vị chỉ tả tán”. Sau một tuần uống thuốc các chứng chuyển biến tốt, dùng tất cả hai liều thì bệnh khỏi.

Bàn lun:

Bệnh này thuộc chứng tỳ vị hư hàn, thận dương hư suy. Dùng “Tam vị chỉ tả tán” để bổ tỳ vị sáp tràng cố thoát, thêm Đậu nhục khấu để có tác dụng cay ẩm, ôn trung trợ dương để phục hồi dương khí của tỳ vị, còn Nhục quế là vị tân cam đại nhiệt để bổ hỏa trợ dương, phục hồi hỏa của thận dương mệnh môn.

Khi đã phục hồi được dương của tỳ vị, chức năng chuyển vận tiêu hoá của ruột đã được điều hòa thì bệnh tật khỏi

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng