Phương pháp điều trị bệnh viêm cổ tử cung

0

Viêm cổ tử cung có hai loại cấp tính và mạn tính; viêm cổ tử cung cấp tính thường cùng lúc phát sinh với viêm nội nạc tử cung và viêm âm đạo cấp tính, phần nhiều là sẩy thai do nhiễm khuẩn

Bệnh viêm cổ tử cung và phương pháp điều trị viêm cổ tử cung

1. Bệnh viêm cổ tử cung là gì?

Viêm cổ tử cung là một chứng bệnh thường gặp của nữ giới. Cổ tử cung là một phòng tuyến quan trọng ngăn chặn vi khuẩn đi lên cơ quan sinh dục, nhưng khi cổ tử cung bị tổn thương hay kích thích có thể phát sinh chứng viêm, đó gọi là viêm cổ tử cung.

Viêm cổ tử cung có hai loại cấp tính và mạn tính; viêm cổ tử cung cấp tính thường cùng lúc phát sinh với viêm nội nạc tử cung và viêm âm đạo cấp tính, phần nhiều là sẩy thai do nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn sau khi sanh, âm đạo tổn thương hay âm đạo có dị vật gây nên, thường gặp nhất là viêm cổ tử cung mạn tính.

1.1. Viêm cổ tử cung cấp tính:

Viêm cổ tử cung cấp tính là do vi khuẩn xâm nhập vào thế tuyến niêm mạc của cổ tử cung và lan đến biểu mô cổ tử cung gây nên, nguyên nhân thường gặp nhất là do nhiễm khuẩn cầu lympho.

Bệnh này có triệu chứng huyết trắng tăng nhiều và có mủ, kèm theo đau lưng, bụng dưới nặng trì, tiểu nhiều và tiểu gấp. Viêm cổ tử cung cấp tính cần phải dùng thuốc kháng sinh như Atebrin hay Quinacrine điều trị toàn thân hầu tránh chứng viêm lan đến khung chậu.

1.2. Viêm cổ tử cung mạn tính:

Viêm cổ tử cung mạn tính thường là do bệnh khuẩn xâm nhập vào cổ tử cung sau khi sanh đẻ, sẩy thai hay tổn thương cổ tử cung. Đại đa số viêm cổ tử cung mạn tính không có dấu hiệu của quá trình cấp tính.

Dấu hiệu lâm sàng của viêm cổ tử cung mạn tính gồm có cổ tử cung lở loét, cổ tử cung sưng to, bướu thịt cổ tử cung, u nang thể tuyến cổ tử cung và viêm ống cổ tử cung.

2. Phương pháp chẩn đoán:

Loại viêm cổ tử cung mạn tính thường gặp nhất là lở loét cổ tử cung. Do các mô trong sâu của cổ tử cung phát viêm, khiến lớp biểu mô bề mặt cổ tử cung do thiếu dinh dưỡng bong tróc, rồi được thay thế bằng biểu mô của ống cổ tử cung, làm cho vết lở phát đỏ và có dạng hạt.

Nếu bề mặt vết lở bằng phẳng và nhẵn bóng, đó gọi là lở loét loại hình đơn thuần; nếu bề mặt vết lở lồi lõm và có dạng hạt thì gọi là lở loét loại hình hạt; còn như bề mặt vết lở lồi lõm không rõ rệt và có dạng núm vú thì gọi là lở loét loại hình núm vú hay lở loét loại hình nhú.

Căn cứ theo diện tích vết loét lớn hay nhỏ, có thể chia thành ba mức độ:

(1) Độ nhẹ: Diện tích vết loét chiếm 1/3 diện tích bề mặt cổ tử cung.

(2) Độ trung: Chiếm 1/3 đến 2/3 diện tích bề mặt cổ tử cung.

(3) Độ nặng: Chiếm 2/3 diện tích bề mặt cổ tử cung trở lên.

Bệnh viêm cổ tử cung và phương pháp điều trị viêm cổ tử cung

3. Các triệu chứng chính:

–    Huyết trắng tăng nhiều, màu trắng sữa sệt hay màu vàng có mủ.

–    Người có bướu thịt đôi khi huyết trắng có lẫn máu, nếu bệnh nặng có triệu chứng xuất huyết sau khi giao hợp.

–    Khi chứng viêm cổ tử cung lan đến khung chậu, có triệu chứng đau và nặng trì ở thắt lưng.

Lở loét cổ tử cung mức độ nặng có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động của tinh trùng, gây nên vô sinh.

Lưu ý:

Lở loét cổ tử cung thời kỳ đầu nhìn bằng mắt khó thể phân biệt với ung thư cổ tử cung, nên trước khi điều trị, nhất thiết phải kiểm tra sinh thiết tế bào học, nếu cần thì kiểm tra bằng nội sôi âm đạo và lấy mẫu mô cổ tử cung kiểm tra mô sống, loại trừ ung thư cổ tử cung rồi mới tiến hành điều trị.

4. Phương pháp điều trị:

Phương pháp điều trị lở loét cổ tử cung có thể bằng thuốc, vật lý trị liệu và phẫu thuật.

1)  Điều trị bằng thuốc:

Nếu diện tích lở loét nhỏ, chứng viêm chưa ngấm sâu thì có thể áp dụng phương pháp này. Thuốc thường dùng có Cromat kali nặng hay Nitrat bạc 30%.

2)  Vật lý trị liệu:

Nếu diện tích lở loét tương đối rộng, chứng viêm ngấm khá sâu, thường dùng phương pháp đốt điện, móc điện, đông lạnh, tia hồng ngoại hay tia laser. Thời gian điều trị nên tiến hành vào lúc sau khi sạch kinh trong vòng một tuần, trong thời gian điều trị tuyệt đối cử sinh hoạt tính dục và mỗi tháng kiểm tra lại một lần.

3)  Phẫu thuật trị liệu:

Đối với tình trạng nặng điều trị bằng thuốc hay vật lý trị liệu đều không có hiệu quả hoặc kiểm tra sinh thiết nhiều lần khả nghi nhưng kiểm tra mô sống lại không tìm ra khối u, đó là vì vết loét sâu rộng ảnh hưởng đến ống cổ tử cung, vậy thì phải phẫu thuật cắt bỏ hình chùy cổ tử cung hay toàn bộ tử cung.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng