Phương pháp chẩn đoán và điều trị ung thư thực quản hiệu quả

0

Chụp phim cản quang thực quản, soi thực quản, làm sinh thiết niêm mạc thực quản để phát hiện bệnh. Kiểm tra tế bào vòng thực quản dương tính khoảng trên dưới 90%.

Chẩn đoán và điều trị ung thư thực quản

Chẩn đoán ung thư thực quản

Chẩn đoán ung thư thực quản chủ yếu dựa vào:

+ Tuổi trên 40, nam, gia đình có người mắc bệnh này, hoặc uống rượu nhiều.

+ Nuốt khó, đau vùng sau xương ức, có hiện tượng trào ngược thức ăn.

+ Chụp phim cản quang thực quản, soi thực quản, làm sinh thiết niêm mạc thực quản để phát hiện bệnh. Kiểm tra tế bào vòng thực quản dương tính khoảng trên dưới 90%.

Xem thêm: Phụ nữ là người giữ lửa trong gia đình khi hôn nhân bị thử thách?

Chẩn đoán và điều trị ung thư thực quản
Điều trị ung thư thực quản

Điều trị ung thư thực quản

Ung thư thực quản thường được điều trị bằng phẫu thuật, nếu có di căn dung hoá liệu, kết hợp với thuốc Đông y để điều trị.

Biện chứng luận trị: Dựa vào triệu chứng lâm sàng, có thể biện chứng theo các thể loại sau:

–    Đàm khí uất kết: Ngực đầy, đau tức hoặc khó thở, nấc cụt, ợ hơi, nuốt khó, miệng khô, táo bón, rêu lưỡi trắng dày, mạch Huyền Hoạt, thường gặp ở giai đoạn mới phát bệnh.

Điu trị: Sơ can, lý khí, hoá đàm, giáng nghịch.

Dùng bài Toàn phúc đại giả chạch chang gia giảm: Toàn phúc hoa 12g, Đại giả thạch 20g, Khương bán hạ (hoặc Sinh bán hạ – sắc trước 1 giờ), Hương phụ 8g, Mộc hương 8g, Uất kim 10g, Đan sâm 16g, Phục linh 12g, Chỉ xác 10g, Cát cánh, Toàn qua lâu, Phỉ bạch, Uy linh tiên đều 12g, Chế nam tinh 8g, Bạch anh 12g, Hạ khô thảo 16g, Trúc nhự 12g, Ngoã lăng tử 16g.

Khí hư thêm Đảng sâm, Thái tử sâm đều 12g.

–    Huyết ứ: Ngực đau, ăn vào nôn ra, nặng thì khó uống được nước, phân như phân dê, người gầy da khô, lưỡi đỏ, khô, mạch Tế Sáp.

Điều trị: Dưỡng huyết, hoạt huyết, tán kết. Dùng bài Đào hồng tứ vật chang gia giảm: Sinh địa 16g, Đương quy 20g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 8 ~12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 10g.

Nếu nặng thêm Tam thất, Một dược, Đan sâm, Xích thược, Ngũ linh chi, Hải tảo, Côn bố, Bối mẫu, Qua lâu… Nếu nuốt khó cho uống Ngọc xu đơn trước. Trường hợp ngực lưng đau nhiều thêm Diên hồ sách (sao giấm), chích Nhũ hương, chích Một dược, Ty qua lạc. Táo bón thêm Nhục thung dung.

–    Nhiệt độc thương âm: Nuốt rất khó, lưng ngực đau bỏng rát, miệng khô, họng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không rêu, mạch Huyền Tế Sác.

Điều trị: Thanh nhiệt, giải độc, dưỡng âm, nhuận táo. Dùng bài Tu âm thông cách ấm gia giảm: Bồ công anh 20g, Xuyên hoàng liên 8 ~ 10g, Chi tử 12g, Sinh địa 16g, Đương quy 20g, Xuyên khung 8g, Nam, Bắc sa sâm đều 16g, Mạch môn, Huyền sâm, Tỳ bà diệp tươi, Lô căn tươi đều 20g, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Bạch anh, Hạ khô thảo đều 12g.

Táo bón thêm Tử uyển, Hoả ma nhân, Đào nhân, Nhục thung dung.

–    Âm Dương lưỡng hư: Nuốt không xuống, ngày càng gầy, mệt mỏi, hồi hộp, sắc mặt tái nhợt, chân tay thân mình mát lạnh, mặt sưng, chân phù, sắc lưỡi nhạt, mạch Tế Nhược.

Điều trị: Ôn bổ Tỳ Thận, tư âm, dưỡng huyết. Dùng bài Bác trân thang hợp Bát vị hoàn gia giảm: Hồng sâm 8 ~ 12g, chích Hoàng kỳ 20g, Thục địa 16g, Sa nhân 10g, Sơn dược 12g, Nhục quế 6 ~ 8g, Câu kỷ tử 12g, Chế phụ tử 8 ~ 16g (sắc trước), Đương quy 20g, Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh, Đại táo đều 12g, Cam thảo 4g, Sinh khương 3 lát.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng