Phụ nữ trung niên có hay mắc bệnh ung thư nội mạc tủ cung không?

0

Ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ thường được phát hiện sớm vì nó thường xuyên tạo ra chảy máu âm đạo giữa chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh. Và đây là căn bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ trung niên

Bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trung niên

Ung thư nội mạc tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trung niên, bắt đầu trong tế bào nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung, tử cung rỗng hình quả lê – cơ quan vùng chậu, nơi bào thai phát triển xảy ra. Ung thư nội mạc tử cung đôi khi được gọi là ung thư tử cung, nhưng cũng có những tế bào khác trong tử cung có thể trở thành ung thư, chẳng hạn như cơ hoặc các tế bào myometrial. Những hình thức loại ung thư ít phổ biến được gọi là sacôm.

Ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ thường được phát hiện ở giai đoạn đầu bởi vì nó thường xuyên tạo ra chảy máu âm đạo giữa chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh. Nếu ung thư nội mạc tử cung được phát hiện sớm, loại bỏ tử cung bằng phẫu thuật thường loại bỏ tất cả của ung thư

Nguyên nhân gây bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trung niên

Hiện tại khoa học vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân của ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ, nhưng có một điều chắc chắn là đây không phải là bệnh lây truyền từ người này sang người khác. Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung, đó là những yếu tố mà nếu có, người phụ nữ sẽ có nhiều khả năng (nhưng không phải chắc chắn) mắc phải căn bệnh này. Các yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung gồm:

Tuổi: Ung thư nội mạc tử cung xuất hiện hầu hết ở những người trên 50 tuổi.

Quá sản nội mạc tử cung: Sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ tuổi trung niên.

Điều trị nội tiết tố thay thế: Đây là phương pháp điều trị để chống loãng xương, điều chính các rối loạn do mãn kinh, phòng một số bệnh tim mạch. Các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này với liều cao trong một thời gian dài sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Béo phì: Sự tổng hợp estrogen của cơ thể diễn ra một phần tại tổ chức mỡ. Người béo phì sẽ có hàm lượng estrogen cao trong cơ thể, và đó là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ. Nguy cơ cũng tăng ở những người mắc bệnh cao huyết áp hay đái tháo đường.

Tamoxifen: Những phụ nữ dùng tamoxifen để phòng ngừa hay điều trị ung thư vú sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Điều này là do những tác động tương tự estrogen của thuốc trên tử cung. Trên thực tế lợi ích do thuốc đem lại lớn hơn nhiều nguy cơ nên tamoxifen vẫn được chỉ định rộng rãi trong điều trị ung thư vú, tuy nhiên bệnh nhân nên trao đổi kỹ với bác sỹ trước khi sử dụng và phải được theo dõi cẩn thận.

Chủng tộc: Phụ nữ da trắng có xu hướng mắc nhiều hơn phụ nữ da đen.

Ung thư đại-trực tràng: Những phụ nữ bị một dạng ung thư đại – trực tràng bẩm sinh có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung.

Một số yếu tố khác là: Không sinh đẻ, dậy thì sớm, mãn kinh muộn cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Những phụ nữ có nguy cơ cao nên gặp bác sỹ để biết cách nhận ra các triệu chứng sớm của bệnh cũng như thời gian theo dõi định kỳ.

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ tuổi trung niên

Ung thư nội mạc tử cung thường xuất hiện sau tuổi mãn kinh với triệu chứng phổ biến nhất là ra máu âm đạo bất thường. Chảy máu lúc đầu dưới dạng loãng, có những vệt máu sau đó số lượng máu sẽ tăng dần. Không nên chủ quan coi đây là một phần của kinh nguyệt mà nên đi khám ngay. Người phụ nữ nên đi khám nếu thấy xuất hiện một trong số các triệu chứng sau:

–    Đi tiểu khó hoặc đau.

–    Kéo dài thời gian hoặc chảy máu giữa chu kỳ.

–    Chảy dịch, chảy máu âm đạo bất thường.

–    Đau vùng chậu.

–    Đau khi giao hợp.

–    Giảm cân ngoài ý muốn.

–    Bệnh ở giai đoạn muộn, các triệu chứng có thể gặp như đau bụng, đái ra máu hoặc bí đái do khối u chèn ép, xâm lấn vào bàng quang, hoặc có khi đi ngoài ra máu hoặc không đi ngoài được do khối u chèn ép, xâm lấn vào trực tràng phía sau.

–    Về thể trạng, bệnh nhân có thể có các biểu hiện mệt mỏi, thiếu máu, gầy sút cân, đặc biệt có những bệnh nhân để bệnh quá muộn, khi đến viện bệnh đã ở giai đoạn cuối, di căn nhiều nơi, việc chữa trị rất khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả. Vì vậy, khi thấy có bất cứ dấu hiệu nào của bệnh bạn nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Phòng ngừa bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trung niên

Bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trung niên

–    Sử dụng thuốc uống ngừa thai có thể làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ngay cả 10 năm sau khi ngừng thuốc.

–    Béo phì là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển của bệnh ung thư nội mạc tử cung. Có thể giúp ngăn ngừa ung thư nội mạc tử cung bằng cách duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Các mô chất béo dư thừa có thể làm tăng mức độ estrogen trong cơ thể, làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh khi có tuổi làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cũng như các bệnh khác.

–    Thường xuyên tập thể dục có thể giảm nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Những phụ nữ tập thể dục mỗi ngày có thể giảm một nửa nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung so với những phụ nữ không tập thể dục.

Điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trung niên

–    Khi được chẩn đoán là ung thư nội mạc tử cung, người bệnh thường lo sợ, mất bình tĩnh và bối rối, bên cạnh đó kế hoạch điều trị lại phức tạp, vì vậy khi trao đổi với bác sỹ về kế hoạch điều trị nên có phương tiện để ghi lại những ý kiến của bác sỹ hoặc có người thân đi cùng.

–    Hầu hết các bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật, một số được điều trị bằng tia xạ (còn gọi là xạ trị), một số được điều trị bằng nội tiết tố, một số lại được điều trị phối hợp các phương pháp này. Bác sỹ sẽ trao đổi với bệnh nhân về chi tiết của các phương pháp điều trị và kết quả sẽ đạt được.

–    Phẫu thuật điều trị ung thư nội mạc tử cung gồm có cắt bỏ tử cung, buồng trứng và vòi trứng hai bên, lấy đi các hạch bạch huyết để kiểm tra xem ung thư đã lan đến hạch hay chưa. Nếu ung thư chỉ giới hạn ở lớp nội mạc tử cung, bệnh nhân sẽ không cần điều trị gì thêm.

–    Xạ trị là phương pháp sử dụng các chùm tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Giống như phẫu thuật, đây là phương pháp điều trị tại chỗ nghĩa là chỉ tác động đến những tế bào ở trong vùng điều trị. Có 2 hình thức xạ trị:

+ Xạ ngoài: Sử dụng một máy phát tia lớn ở ngoài cơ thể để chiếu tia vào vùng điều trị. Bệnh nhân thường được điều trị 5 ngày mỗi tuần trong vòng vài tháng. Có thể bệnh nhân chỉ cần điều trị ngoại trú mà không phải nằm viện.

+ Xạ trong: Sử dụng một ống nhỏ chứa chất phóng xạ đưa vào âm đạo và lưu ở đó trong vài ngày. Bệnh nhân sẽ phải nằm viện và hạn chế sự thăm viếng trong những ngày điều trị.

–    Điều trị nội tiết là phương pháp dùng các thuốc để ngăn chặn các tế bào ung thư tiếp xúc với các nội tiết tố mà chúng cần có để phát triển. Trước khi điều trị nội tiết, bác sỹ sẽ yêu cầu làm xét nghiệm về nội tiết để biết được bệnh nhân có khả năng đáp ứng với phương pháp điều trị này hay không. Đây là phương pháp điều trị toàn thân. Thuốc thường dùng có tên là progesteron, dạng viên. Điều trị nội tiết có thể được chỉ định cho những bệnh nhân không mổ được, đã di căn hoặc tái phát sau điều trị.

Những lưu ý trong quá trình điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung

Phẫu thuật: Bệnh nhân thường đau và cảm giác rất mệt mỏi sau phẫu thuật. Thời gian để phục hồi thường kéo dài 4-8 tuần sau phẫu thuật. Một số bệnh nhân sẽ xuất hiện buồn nôn, nôn hay các biểu hiện về tiêu hoá khác. Cần tuân thủ chế độ ăn chuyển dần từ lỏng sang đặc.

Do mô cắt tử cung và buồng trứng 2 bên nên bệnh nhân sẽ không còn kinh nguyệt, không có khả năng có thai và có các biểu hiện của mãn kinh. Tuy nhiên không nên dùng nội tiết tố thay thế để điều chỉnh các triệu chứng của mãn kinh vì như trên đã nêu, đây là 1 yếu tố nguy cơ.

Xạ trị: Các tác dụng phụ tuỳ thuộc vào liều xạ và vùng được chiếu xạ. Các biểu hiện thông thường là đỏ da, khô da, rụng lông vùng chiếu xạ, chán ăn và mệt mỏi. Một số bệnh nhân có biểu hiện khô, kích thích nóng rát âm đạo. Tia xạ cũng có thể gây nên một số rối loạn về đại, tiểu tiện.

Điều trị nội tiết: Có thể gây ra các biểu hiện ứ nước trong cơ thể, tăng cảm giác ăn ngon, lên cân.

Vấn đề dinh dưỡng: Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ trong quá trình điều trị để giữ được sức khoẻ, giúp cho quá trình liền vết mổ diễn ra thuận lợi.

Theo dõi sau điêu trị: Theo dõi sau điều trị là rất quan trọng trong điều trị ung thư nói chung và ung thư nội mạc tử cung nói riêng. Nó giúp cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Mỗi lần đến kiểm tra, bệnh nhân sẽ được khám lâm sàng bao gồm cả thăm khám khung chậu, chụp phim X quang và làm các xét nghiệm khác.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng