4 bệnh phụ khoa chị em phụ nữ hay mắc phải

0

Viêm âm đạo là bện phụ khoa hường gặp ở những phụ nữ đã có chồng, sinh con do thiếu vệ sinh khi giao hợp. thiếu vệ sinh sau khi sinh đẻ, sảy thai.

Một số bệnh phụ khoa mà phụ nữ hay mắc phải

1. Viêm nhiễm bộ phận sinh dục

a. Viêm âm hô

Ngứa ở cửa mình và ra nhiều khí hư. Vùng âm hộ tấy đỏ không nên coi thường bệnh này vì bệnh làm ta rất khó chịu, ngứa ngáy và dễ dẫn đến viêm âm đạo và cổ tử cung.

Đề phòng bằng cách: hàng ngày phải rửa bộ phận sinh dục ngoài, nhất là những ngày có kinh nguyệt. Rửa kỹ các nếp các rãnh ở môi lớn và môi bé, sau đó lau khô thay quần lót sạch.

b. Viêm âm đạo

Thường gặp ở những phụ nữ đã có chồng, sinh con do thiếu vệ sinh khi giao hợp. thiếu vệ sinh sau khi sinh đẻ, sảy thai. Ngoài nguyên nhân trên cơ thể bị lây lan do người chồng, do lậu, ký sinh trùng roi và lây qua các dụng cụ y tế, qua quá trình thăm khám.

Viêm âm đạo có nhiều loại, ở đây ta chỉ đề cập tới một số trường hợp thông thường của đa số phụ nữ:

+   Viêm âm đạo do vi trùng thường: Thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, đã mãn kinh. Dấu hiệu của bệnh là ngứa âm đạo, ra khí hư không nhiều lắm nhưng có mùi hôi và lẫn ít máu (dễ nhầm với ung thư). Điều trị không khó chỉ bằng thuốc sát trùng và uống thêm ít thuốc nội tiết tố nữ.

+   Viêm âm đạo do ký sinh trùng roi (Trichomonar): Người bị bệnh ra rất nhiều khí hư loãng, có bọt màu vàng xanh. Ngứa vùng âm hộ và âm đạo. Toàn bộ vùng âm đạo đỏ. Cho mỏ vịt vào thấy đau rát. Điều trị không khó nhưng phải đề phòng lây qua đường giao hợp,

Phải điều trị cả vợ lẫn chồng, kiêng giao hợp trong suốt thời gian điều trị.

Không được dùng quần áo, khăn tắm, và chậu với người đang có bệnh.

+   Viêm âm đạo do nấm: Thường gặp ở những phụ nữ có thai, bị bệnh đái đường.

Triệu chứng giống bệnh viêm âm đạo do ký sinh trùng roi, nhưng khí hư không ra nhiều mà có màu trắng đục, đặc như bột. Âm đạo ngứa nhiều.

Điều trị bệnh này không khó nhưng phải đề phòng tái phát và rất dễ lây lan,

c. Viêm cổ tử cung

Có hai dạng viêm: Viêm cấp tính và viêm mãn tính; nhưng viêm cấp tính thường ít gặp. Triệu chứng cũng thấy ra nhiều khí hư, có khí có mủ, đau lưng và đau vùng hạ vị. Thường hay gặp nhất là viêm mãn tính cổ tử cung, xuất hiện sau khi sẩy, đẻ, thiếu vệ sinh.

Nguyên nhân là do các loại vi trùng thường; nấm, ký sinh trùng roi. Triệu chứng cũng ra nhiều khí hư có màu vàng đục, ra nhiều trước và sau hành kinh, không lẫn với huyết.

Việc điều trị cũng giống như viêm âm đạo, không khó khăn những phải tìm đúng nguyên nhân gây bệnh để điều trị đặc hiệu. Không nên đặt kháng sinh vào âm dạo nếu chưa biết rõ nguyên nhân gây bệnh.

Viêm cổ tử cung cũng như viêm âm đạo rất dễ tái phát, dai dẳng và khó chữa nếu ở dạng mãn tính. Cần tuyệt đối điều trị sớm khi mới mắc bệnh và thực hiện tốt các nguyên tắc vệ sinh.

d. Viêm tử cung

Viêm tử cung cũng có hai loại: Viêm cấp tính và viêm mãn tính thân tử cung.

Viêm cấp tính: Thường xẩy ra sau khi sẩy đẻ do vi trùng thường hoặc lậu gây ra. Do viêm nhiễm cấp tính ở âm hộ âm đạo, cổ tử cung lan tới tử cung.

Bệnh nhân sốt cao 38-39°, kèm theo đau vùng hạ vị và đau lưng, khí hư ra nhiều và như mủ, có mùi hôi có khi ra lẫn máu. Âm đạo đau rát và đi đái buốt.

Nếu viêm cấp tính do vi trùng thường thì thường là bị sốt sau khi sẩy, đẻ. Nếu thấy sốt 2 – 3 ngày sau khi đẻ thì phải đi khám ngay. Đồng thời với sốt là sản dịch ra nhiều, có mùi hôi. Sau khi đẻ 2 – 3 ngày mà vẫn thấy bụng to khi sờ nắn vào dạ con thấy đau là do dạ con co lại chậm.

Viêm mãn tính là do sự tái phát của nhiễm trùng cổ tử cung và phần phụ. Loại này thường ít gặp.

Muốn phòng bệnh viêm tử cung cần phải giữ gìn vệ sinh sạch sẽ sau khi sẩy đẻ. Tránh để sót rau sau khí sẩy đẻ. Không nên đẻ hoặc sẩy thai ở nhà không đi bệnh viện. Các thao tác kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh của người hộ sinh không đảm bảo sẽ dẫn đến trường hợp viêm nhiễm này. Sau khi sẩy, đẻ cần quan sát theo dõi tính chất sản dịch để kịp thời đi khám sớm và điều trị.

e. Viêm phần phụ

Viêm phần phụ là viêm vòi trứng, buồng trứng và các dầy chằng, nghĩa là các phần phụ của dạ con, trong đó chủ yếu là viêm vòi trứng.

Nguyên nhân do vi trùng gây bệnh ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, tử cung, rồi lên hai vòi trứng và gây bệnh tại đó. Cũng có thể do sẩy đẻ bị nhiễm trùng gây nên viêm phần phụ.

Viêm cấp tính: Sốt cao, đau ở hai bên hố chậu (hai bên bụng dưới) đau liên tục, vận động và đi lại càng đau, nằm nghỉ sẽ giảm bớt. Khí hư ra nhiều có màu vàng như mủ, mùi hôi khó chịu. Điều trị bằng kháng sinh liều cao, nhưng bệnh rất dễ chuyển sang viêm mãn tính, rồi sau lại tái phát cấp tính.

Nếu không điều trị tích cực rất dễ nguy hiểm.

Viêm mãn tính: Là hậu quả của viêm cấp tính không được điều trị kịp thời. Dấu hiệu như đau ở viêm cấp tính nhưng đau âm ỉ và ra nhiều khí hư có màu vàng, hôi. Đặc biệt là không sốt.

Việc điều trị viêm mãn tính phần phụ ít đem lại kết quả mong muốn, thường dẫn đến vòi trứng bị dính tắc và bị vô sinh. Chính vì vậy việc phòng bệnh viêm nhiễm phần phụ vô cùng quan trọng. Đối với phụ nữ cần nhớ mấy điểm sau đây:

+   Giữ vệ sinh hàng ngày bộ phận sinh dục. Vệ sinh sạch sẽ sau khi sẩy đẻ, hành kinh, sau khi giao hợp.

+   Khi bị viêm âm đạo cần phải điều trị sớm và triệt để. Bởi đó là nơi ẩn nấp tốt của vi trùng để chờ thời cơ viêm nhiễm phần phụ.

+   Khi bị viêm phần phụ cấp tính cần phải điều trị đúng qui cách để không chuyển thành mãn tính: Dùng thuốc phải có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa

Một số bệnh phụ khoa mà phụ nữ hay mắc phải

2. Sa sinh dục (sa dạ con)

Sa sinh dục là trường hợp tử cung bị sa ra ngoài. Khi bị sa, tử cung tụt thấp trong âm đạo rối dần dần sa hẳn ra ngoài âm hộ, khiến người bệnh có thể nhìn và sờ thấy được.

Đây là một bệnh khá phổ biến ở phụ nữ nông thôn và phụ nữ sinh đẻ nhiều lần. Nguyên nhân là do sau khi đẻ lao động quá sớm và lao động nặng, đẻ nhiều.

Bệnh sa sinh dục tiến triển từ từ, càng ngày càng sa thấp hơn. Bệnh không nguy hiểm nhưng gây cho người phụ nữ nhiều khó chịu và ảnh hưởng đến năng suất lao động.

Điều trị bằng cách phẫu thuật, nhưng gây nhiều biến chứng nhất là phụ nữ lớn tuổi. Biện pháp tốt nhất là để đề phòng:

+   Không nên sinh đẻ nhiều và sau khi đẻ cần có chế độ nghỉ ngơi và làm việc thích hợp. Không nên lao động quá sớm, nhất là không nên gánh sau khi đẻ.

+   Khi bị sa sinh dục mà chưa đi chữa được thì phải làm vệ sinh sạch sẽ hàng ngày, đẩy khối sa sinh dục lên, mặc quần lót chặt để khỏi sa ra ngoài, tránh nhiễm trùng.

3. Rò bàng quang âm đạo

Bệnh này là do đẻ khó, thai to, ngôi thai bất thường không thuận, chuyển dạ kéo dài đưa tới vỡ dạ con, thủng bàng quang, gây rò nước tiểu.

Dấu hiệu của bệnh nước tiểu tự động chẩy ra âm đạo ngay sau khi đẻ. Nước tiểu chảy ra như vậy gây ra tình trạng viêm nhiễm toàn bộ vùng âm hộ.

Bệnh này làm cho người phụ nữ rất khó chịu, khổ tâm đi đâu mùi rất hôi, nhiều khi bị ngay chính người chồng ruồng bỏ. Vì vậy cần phải ngăn ngừa trước bằng cách:

+   Cẩn thận khi sinh đẻ, thai nghén. Không nên đẻ ở nhà.

+   Khi có thai phải đi khám đúng kỳ hạn để kịp thời phát hiện những trường hợp đẻ khó.

4. Ung thư bộ phận sinh dục

Ung thư sinh dục có nhiều loại:

–    Ung thư âm hộ

–    Ung thư cổ tử cung

–    Ung thư thân tử cung

–    Ung thư buồng trứng

Nhưng phổ biến và hay gặp nhất là ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng.

a. Ung thư cổ tử cung

Đây là loại ung thư nguy hiểm vì tiến triển nhanh và gây tử vong cao, bệnh thường gặp ở phụ nữ từ 45 – 50 tuổi, tuy nhiên cũng có thể gặp ở những phụ nữ trẻ.

Nguyên nhân có thể do sẩy đẻ nhiều hơn, viêm loét mãn tính ở cổ tử cung hoặc tổn thương ở cổ tử cung không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Dấu hiệu đầu tiên là ra khí hư, sau đó ra huyết bất thường. Càng về sau càng ra huyết nhiều, có lần khí hư như mủ, có mùi hôi khó chịu. Cuối cùng là dấu hiệu đau ở vùng bụng dưới. Khi có dấu hiệu này thì đã là ở giai đoạn muộn. Bệnh này điều trị có kết quả tốt nếu được phát hiện sớm.

Tuy nhiên vấn đề phòng ngừa là quan trọng. Người phụ nữ nên đi khám phụ khoa định kỳ để phát hiện những tổn thương nghi ngờ hoặc có ung thư ở cổ tử cung để phát hiện, điều trị kịp thời.

b. Ung thư buồng trứng

Bệnh này có thể gặp ở bất cứ phụ nữ nào. Đây là một loại ung thư kín, nên thường bị phát hiện muộn. Lúc đầu khi khối u còn nhỏ, các triệu chứng không có gì đặc biệt. Người phụ nữ vẫn thấy có kinh đều, vẫn sinh nở được.

Nếu phát hiện sớm thì có thể điều trị được bằng cách cắt gọn bỏ cả khối u ung thư và uống thêm thuốc hóa chất chống ung thư và đề phòng tái phát.

Nhưng nếu phát hiện muộn thì khối ung thư đã lan tràn cả hai buồng trứng làm cho bệnh nhân thấy bụng to lên, rối loạn kinh nguyệt và người gầy sút. Điều trị lúc này ít kết quả vì bệnh nhân không đảm bảo sức khỏe.

Cho nên cách đề phòng tốt nhất để phòng bệnh ung thư buồng trứng là thường xuyên đi khám phụ khoa để phát hiện khối ung thư từ khi còn nhỏ.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng