Uống nước buổi sáng có lợi thế nào với sức khỏe?

0

Mỗi buổi sáng, uống một ly nước nóng, tập thể dục và phơi nắng sớm là một phương pháp dưỡng sinh an toàn nhất

Tác dụng của việc uống nước buổi sáng

A – Uống nước lạnh buổi sáng

Ở Sài gòn cách đây 30 năm đã có phong trào uống nước. Ngay khi thức dậy buổi sáng, uống một ly cối (250ml) cho tới 1 lít nước sạch (ở nhiệt độ thường), sau đó tập thể dục. Đây là một phương pháp dưỡng sinh từ nước Nhật.

Lúc đầu thấy khó chịu vì bụng óc ách nhưng sẽ quen dần, theo tôi chỉ cần một ly nước cối là đủ. Sau vài tháng áp dụng, cơ thể nhẹ nhàng, vận động nhanh nhẹn hơn. Sau bài thể dục đi tiểu thoải mái. Có lẽ do uống nhiều nước, khi kết hợp với vận động cơ bắp làm cho các mạch máu ngoại biên thông suốt, chất bã nước thải ra theo nước tiểu.

Ở người già, sự tích tụ chất bã, nhất là acid uric và acid lactic nhiều làm cho cơ thể mê mệt. Những vận động cơ bắp giúp cho mạch máu lưu thông, giảm sức cản ngoại biên và thải chất bã nhờ uống nước.

Cách đây 2 năm, tôi đến thăm một tu viện có khoảng 10 tu sĩ trên 60 tuổi. Trong đó có 4 cụ bị chứng mồ hôi muối, quần áo dính mùi mồ hôi thì cứng lại như mo cau và trắng như muối.

Tôi đề nghị họ uống nhiều nước hơn, đặc biệt là uống một ly nước lã (đun sôi để nguội) vào sáng sớm. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, chứng mồ hôi muối không còn nữa, ngoài ra các cụ còn thấy thân thể nhẹ nhàng, cử chi lanh lẹ hơn. Theo thống kê, người già thường sống ít hơn lượng nước cần thiết cho cơ thể, đây là một điều nên tránh.

B – Uống nước nóng buổi sáng

Cùng với ly nước buổi sáng, thay vì uống nước thường thì uống nước nóng. Ngay sau khi uống sẽ có cảm giác nóng ran trong bụng, tiếp theo bài thể dục thông thường sẽ đi tiểu dễ đàng. Áp dụng cách này một thời gian sẽ thấy cơ thể nhẹ nhàng, hết mê mệt, tinh thần sảng khoái.

Theo đông y thì nước nóng uống vào lúc đói bụng sẽ làm ấm trung tiêu, làm mạnh vị khí. Vì khí là khí của hậu thiên nên làm cho doanh khí thông sướng. Kết hợp với thể dục dưỡng sinh, khí đẩy huyết, huyết dẫn khí, khí huyết tỏa khắp chân thân, tới tứ chi làm cho khí doanh vệ tuần hành đúng đường, đúng lối, kinh mạch không còn tắc ách.

Mỗi buổi sáng, uống một ly nước nóng, tập thể dục và phơi nắng sớm là một phương pháp dưỡng sinh an toàn nhất. Theo y học hiện đại, vận dụng cơ bắp làm giảm sức cản mạch máu ngoại biên, là một phương pháp hay để trị chứng cao huyết áp thiểu suy (hypertension déficitaire). Uống nước buổi sáng làm thông tiểu cũng là một giải pháp trị cao huyết áp.

Thiết nghĩ kết hợp “uống một ly nước nóng, tập thể dục dưỡng sinh, phơi nắng sớm” là một phương pháp dưỡng sinh an toàn, không tốn kém, để thực hiện nên xin mạnh dạn giới thiệu với bạn đọc. Ước mong các độc giả lớn tuổi tìm được một phương pháp dưỡng sinh thích hợp để kéo dài tuổi thọ.

Tác dụng của việc uống nước buổi sáng

C – Nhịn đói, uống nước

Bệnh nhân nhịn đói trong thời gian từ 7 tới 10 ngày, không ăn uống gì khác ngoài nước lạnh, bỏ cả những thuốc đang trị bệnh, cũng không được uống sữa. Nguyên tắc căn bản của phương pháp này là thải hết chất độc cũng như các chất dự trữ trong cơ thể khiến cho con người trong sạch, nhờ đó cơ thể khỏe mạnh, hết mọi bệnh tật.

Nếu nhịn ăn vài ba ngày thì chưa có chuyển biến quan trọng. Nhưng nhịn ăn nhiều ngày và uống nhiều nước kéo theo những biến đổi sinh hóa quan trọng ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Chúng ta biết rằng, hàng ngày, cơ thể cần có một số năng lượng tối thiểu cho các chuyển hóa cơ bản. Năng lượng tùy được cung cấp từ sự oxýt hóa các chất bổ dưỡng do máu đem đến cơ quan.

Khi nhịn đói, lượng glucoz – huyết giảm, gan sơ. Vận dụng lượng dự trữ glycogen để tăng cường glucoz trong máu. Một khi lượng glucogen cạn kiệt thì cơ thể bắt buộc phải sử dụng lipid và protid để sinh năng lượng, đây là giai đoạn cùng cực và nguy hiểm.

Mới đầu bệnh nhân thấy cồn cào, mệt mỏi, chân tay rã rời. Lượng glucoz huyết giảm khiến bệnh nhân chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, huyết áp hạ, mắt mờ. Sau đó thần kinh bị ảnh hưởng: cảm giác lạnh, run rẩy, tình trạng sợ hãi, màng ý thức u ám.

Bệnh nhân có thể bị co giật từng cơn (giống như động kinh) và mê sảng. Khi cơ thể vận dụng tới lipid vù procid để có năng lượng tối thiểu thì chất bã trong máu nhiều gây hôn mô bất tỉnh.

Mặt khác, bệnh nhân uống nhiều làm cho bụng óc ách khó chịu, thậm chí có thể gây ỉa chảy toàn nước. Tiểu tiện nhiều làm mất nhiều chất điện giải, gây xáo trộn quan trọng và nguy hiểm.

Trong thời gian nhịn đói buộc phải ngưng các thuốc trị bệnh. Việc ngưng đột ngột các thuốc trị bệnh như thuốc chẹn thụ thể beta (Sectral, cutapress), hoặc các thuốc corticosteroid là một điều nguy hại. Hầu hết thuốc trị bệnh mãn tính phải tăng giảm từ từ, tránh gây đột ngột. Giả dụ trong thời gian nhịn đói, bệnh nhân lên cơn suyễn, cơn co huyết áp, động kinh…. sẽ xử trí ra sao?

Với những biến chứng nêu trên, việc áp dụng phương pháp này cho người suy nhược hoặc già yếu rất nguy hiểm. Phải chăng phương pháp này chỉ áp dụng cho những người ăn uống quá bổ dưỡng, người béo phì mà thôi.

Qua những luận chứng nêu trên, y học hiện đại không chấp nhận phương pháp điều trị này, trước hết vì chưa có kết quả thực nghiệm trong bệnh viện, hai nữa nó có nhiều biến chứng nguy hiểm. Thế còn quan niệm của học dân tộc như thế nào?

Đông y cũng như các ngành khác đều có kinh điển. Những lý luận căn bản từ kinh điển mới có giá trị. Trước hết, chúng ta trích một đoạn trong Nội kinh linh, khu thiên Doanh vệ sinh hội: “Con người thọ khi ở cốc khí. Cốc khí nhập vào vị để rồi truyền lên phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ vậy mà thụ được khí ấy. Phần thanh của khí ấy thành doanh, phần trọc của nó thành vệ.

Doanh ở trong mạch, vệ ở ngoài mạch doanh hành thành những vòng không ngừng nghỉ”. Và được T.C. Nhạc chú như sau: “Con người sống được là nhờ vào khí. Khí của con người thọ được của thiên nhiên và cùng với cốc khí hợp với nhau để vận hành sung cho thân thể.

Vị đúng là biển của khí huyết, của thủy cốc, con người nhận khí cũng chính là cốc khí mà thôi. Cho nên nếu cốc không nhập vào vị chừng nửa ngày thì khí bị suy, trọn ngày thì khí bị thiếu vậy. Khi xuất ra ở vị có sự phân biệt thanh và trọc. Phần thanh là tinh khí của thủy cốc, phần trọc là hàn khí của thủy cốc. Phần thanh thuộc âm đó là doanh khí, phần trọc thuộc dương đó là vệ khí. Khi khí thịnh thì doanh vệ được hòa khí suy thì doanh vệ khí âm, đó là doanh khí; phần trọc thuộc dương, đó là vệ khí.

Khi khí thịnh thì doanh vệ được hòa; khí suy thì doanh vệ bị nhược (Trích bản dịch Nội kinh của Huỳnh Minh Đức). Hai khí doanh vệ đều là phần tinh hoa của thủy cốc. Tinh khí là con đường tiến của huyết thành máu đỏ cho nên gọi huyết là thần khí. Bản chất của thần chính là một dạng sinh động của tính, mà tính là sự kết hợp hài hòa giữa tiên thiên khí và khí hậu thiên.

Con người đầy đủ khí huyết sẽ sống động nhanh nhẹn và hòa hợp với sự vận hành của thiên địa. Khi người ta nhịn ăn, thì khí hậu thiên không đủ, tính mất tính sinh động cho nên cơ thể mệt mỏi đờ đẫn, tinh thần xáo trộn. Đó là cách làm cho cơ thể không theo lẽ thường của thiên địa. Cuộc sống không thuận theo âm dương thì tai họa sẽ xảy ra (Theo Tô Vân, Từ khí điều thần luận).

Theo sách Y học nhập môn, uống là dưỡng dương khí, ăn là dưỡng âm khí. Nếu việc ăn uống đừng sai phạm thì khí vị cùng nối tiếp nhau, âm dương cùng hòa điệu. Ráng ăn làm cho tỳ bị mệt, ráng uống làm cho vị bị trướng.

Vì thế hai chữ ăn uống luôn luôn đi đôi với nhau, điều hòa và hỗ trợ nhau. Nay ta nhịn ăn, chỉ uống mà lại chỉ uống nhiều thì tỷ lệ sẽ mất chức năng vận hóa mà vị lại bị trướng. Vị bị trướng sẽ gây chứng ỉa chảy toàn nước.

Đường Dung Xuyên danh y Trung Quốc giải thích rằng: “Uống nước để làm nhuận tỳ, nhưng uống nhiều quá sẽ thành đình ẩm, thành thấp. Trong ngũ hành, chỉ có thủy khắc được thổ. Khi thủy thắng thổ thì tỳ thổ mất chức năng. Uống nhiều làm cho thấp khí hữu dư, cơ thể sẽ bị các chứng xôn tiết, đọng tiết, bỉ mãn, thủy trướng, thủy ẩm*.

Thận là tạng của thủy hỏa, cho nên nó giúp bàng quang hóa phần thanh, chỉ phần trọc mới thải ra gọi là nước tiểu. Vì thế khi nhịn ăn mà uống nhiều, thận không đủ hỏa khí để hóa thủy sẽ tuôn xuống bên dưới. Đó là làm hại thận.

Mồ hôi và dịch của tâm. Khi nhịn ăn, mồ hôi toát ra như tắm, ấy là tâm bị mệt.

Đoạn trên đã nói ăn ít thì khí bị suy thiếu, uống nhiều làm cho thấp khí hữu dư. Căn bản là ở đó, nó sẽ kéo theo nhiều biến chứng khác. Tuy nhiên có lẽ vấn đề quan trọng nhất ở đây là sự ăn uống bất thường đó làm mất quân bình âm dương.

Con người thọ khí của trời đất mà sinh ra, lấy khí dương của trời làm khí, lấy khí âm của đất làm huyết. Do đó dương thường hữu dư, âm thường bất túc. Phải làm sao để âm khí không bị huyết tổn, cùng tề bình với dương khí, nhờ vậy mà dương khí mới có chỗ nương tựa mà không thoát ra.

Âm thường bất túc, vậy mà chúng ta không ăn để bổ âm mà nhịn ăn làm cho âm thiểu dương thường hữu dư mà người ta lại uống nhiều để làm mạnh dương – Há chăng đó chẳng phải là cố ý làm mất quân bình âm dương, cố tình làm nghịch với lẽ thường. Nội kinh có dạy rằng.

“Bất cứ nguyên do nào làm mất đi sự thăng bằng của khí, đều làm con người bị bệnh”. Sách Tố vấn có câu: “Sống nghịch với âm dương thi tai họa sẽ xảy đến; sống thuận theo âm dương thì các bệnh tật nặng không thể dấy lên được”. Việc “nhịn ăn, uống nước lạnh”, chẳng những làm cơ thể suy nhược còn là nguyên nhân gây bệnh, làm bệnh nặng thêm.

Người xưa biết sống thuận theo âm dương nên căn mạch được hòa đồng tủy cốt vững chắc, khí huyết vận hành đúng chiều. Do đó tà khí không làm hại được, tai mắt tinh sáng, chân khí vững vàng. Nếu âm khí được bình, dương được kín thì tinh thần mới chinh thường. Nếu làm âm dương phân ly thì tinh khí bị tuyệt.

Nói tóm lại, phương pháp “nhịn ăn, uống nước lạnh nhiều ngày” không phù hợp với quan điểm của y học cổ truyền cũng như với y học hiện đại. Phương pháp này chẳng những không chữa được bệnh mà còn làm hại sức khỏe và là nguyên nhân gây bệnh.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng