Quả sấu, thanh long và thanh trà có tác dụng chữa bệnh?

0

Quả sấu chín dùng ăn hay làm mứt sấu chữa bệnh ngứa cổ khó chịu, làm long đờm, thanh giọng. Nếu hấp với đường dùng làm thuốc giải khát. Giầm với gừng, đường và ớt thành món ăn có tác dụng tiễu thực.

Chữa bệnh bằng quả sấu, thanh long và thanh trà

1. SẤU

Loại cây to, có thể cao tới 30m, thường xanh; cành nhỏ có cạnh và có lông nhung mào tro. Lá mọc so le, kép lông chim dài 30-45cm, mang 11-17 lá chét mọc so le, phiến Lá chét hình trái xoan, đầu nhọn gốc tròn, dài 6-10cm, rộng 2,5-4cm, dai, nhẵn, mặt dưới có gân nổi rõ, cụm hoa chùm ở ngọn hay gần ngọn; hoa nhỏ, màu xanh trắng, có lông mềm. Quả hạch hình cầu hơi dẹt, đường kính độ 2cm, khi chín màu vàng sẫm, cây ra hoa mùa xuân – hè và có quả vào mùa hè thu.

Cây mọc ở rừng nửa rụng lá, trên đất đỏ sâu hoặc sâu trung bình giữa 200-600m từ Lạng Sơn, Bắc Thái tới vùng đồng bằng ven biển và cao nguyên Trung Bộ, ít gặp ở vùng thượng du Nam Bộ. Cây cũng thường được trồng ở nhiều nơi để lấy bóng mát và lấy quả, ưa trồng ở nơi đất cát pha. Thu hái quả vào tháng 7-9; rửa sạch, dùng tươi nấu canh hay lấy cơm quả làm tương giấm hay mứt sấu.

Thành phần hoá học: Quả sấu chín chứa 80% nước, 1% acid hữu cơ, 1,3% protid, 8,2% glucid, 2,7% cellulose, 0,8% tro, 100mg% calcium, 44mg% phosphor, với sắt và 3mg% vitamin c.

Tác dụng: Quả có vị chua, hơi ngọt, tính mát; có tác dụng kiện vị sinh tân, tiêu thực, chỉ khát.

Công dụng: Quả sấu xanh dùng nấu canh chua, khi luộc rau muống, người ta thường cho quả sấu vào để có được bát canh vừa chua vừa ngọt. Canh sấu cho người bệnh ăn có tác dụng làm ngon miệng và cũng tăng cường tiêu hoá.

Quả sấu chín dùng ăn hay làm mứt sấu chữa bệnh ngứa cổ khó chịu, làm long đờm, thanh giọng. Nếu hấp với đường dùng làm thuốc giải khát. Giầm với gừng, đường và ớt thành món ăn có tác dụng tiễu thực.

Chữa bệnh bằng quả sấu, thanh long và thanh trà

Quả sấu cũng dùng trị bệnh nhiệt miệng khát, giải say rượu, chữa phong độc khắp mình nổi mẩn, mụn cóc sưng lở, ngứa hoặc đau. Lá dùng nấu nước rửa chữa mụn loét, hoại tử. Vỏ thân dùng trị bỏng và tử cung xuất huyết (theo công năng).

Phụ nữ non nghén, nấu canh quả sấu ăn với cá diếc hay thịt vịt cũng chóng lành. Người ta dùng quả giã ra trị ngứa lở, ăn uống không tiêu; còn vỏ rễ được dùng trị sưng vú.

Đơn thuốc:

–    Chữa ho: Dùng 400g cùi sấu ngậm với ít muối hoặc sắc nước rồi cho đường đủ ngọt, uống 2-3 lần trong ngàỵ. Hoặc dùng 8-20g hoa, quả, nước 300ml sắc còn 100ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Hoặc dùng hoa hấp với mật ong để làm thuốc chữa ho cho trẻ em.

2. THANH LONG

Thanh long là loại thân leo trườn dài tới 10m, bám vào giá thể nhờ những rễ phụ. Thân màu lục, có 3 cạnh dẹp khía tai bèo, thường hoá sừng ở các mép, gai không nhiều lắm, rất ngắn. Hoa có đường kính tới 30cm, màu trắng hay vàng dợt.

Lá đài và cánh hoa nhiều, dính nhau thành ống, nhị nhiều. Quả màu đỏ đỏ, mọng nước, có phiến hoa còn lại, đường kính khoảng 12cm, có nạc trắng. Hạt nhiều, nhỏ, màu đen. Gốc từ Mêhicô cho tới Côlômbia, thường được trồng cho leo lên các cây to, lên tường để lấy quả ăn ngon. Ta có thể thu hái vào mùa hè – thu,- dùng tươi hay phơi khô. Thân thu hái quanh năm, thường dùng tươi.

Thành phần hóa học: Cây chứa hentriacontane và a-sitosterol.

Tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái hoá đàm; thân có tác dụng thư cân hoạt lạc, giải độc.

Công dụng: Quả thanh long là một loại quả ăn giải nhiệt, nhuận tràng. Hoa được dùng trị viêm phế quản, viêm hạch bạch huyết thể lao, lao phổi, say rượu. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Thân dùng trị bỏng lửa, bỏng nước, gãy xương, viêm tuyến mang tai, đinh nhọt (sang ung). Dùng một lượng thân vừa đủ loại bỏ vỏ và gai, giã nát, lấy nước bôi hay dùng bã đắp.

Đơn thuốc: Chữa viêm phế quản, lao và viêm hạch bạch huyết não: Hoa Thanh long 30g, nấu canh với thịt lợn mà ăn.

3. THANH TRÀ

Cây gỗ lớn, nhánh không lỏng, lá mọc đối, phiến lá dai, mép nguyên, có mũi nhọn, hoa tạp tính, mọc thành chùm ngắn ở nách lá hay ở ngọn, hoa nhỏ có 3-5 lá đài, 3-5 cánh hoa mập, 3-5 nhị. Quả hạch chỉ lớn hơn ngón chân cái hay bằng quả chanh, hình bầu dục, màu xanh khi còn non và màu vàng khi chín, thân có tơ mịn, chứa 1 hạt. Ra hoa tháng 1-3, có quả tháng 5-7.

Loài cây phân bố ở Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia và đảo Hải Nam. ở nước ta, cây mọc trong rừng, ở độ cao 200-300m, và cũng được trồng rải rác ở một số nơi lấy quả ăn. Nhân giống bằng cành nhánh; từ lúc trồng đến khi có quả phải mất từ 3 đến 5 năm.

Tác dụng: Quả có vị chua ngọt, tính mát; có tác dụng giải khát, sinh tân dịch.

Công dụng: Nhân dân ta thường dùng quả chín ăn và dùng quả còn xanh nấu giấm canh chua ăn cho mát. Lá được dùng nấu cao chữa bỏng chóng lành.

Quả sấu, thanh long và thanh trà có tác dụng chữa bệnh?
Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng