Công dụng chữa bệnh hiệu quả từ mít, anh đào và bơ

0
Cập nhật lần cuối

Mít là loại cây cao to được trồng phổ biến ở khắp nước ta, rất gần gũi với người dân. Ngoài việc cho quả ăn, nhiều bộ phận của cây mít còn được nhân dân dùng để chữa bệnh có hiệu quả.

Tác dụng chữa bệnh của mít, anh đào và bơ như thế nào

1. MÍT

Mít là loại cây cao to được trồng phổ biến ở khắp nước ta, rất gần gũi với người dân. Ngoài việc cho quả ăn, nhiều bộ phận của cây mít còn được nhân dân dùng để chữa bệnh có hiệu quả.

Tham khảo: Tìm hiểu một số bài thuốc chữa bệnh của mã tiên thảo

Dùng lá mít làm thuốc:

Phụ nữ không đủ sữa cho con bú, dùng lá mít tươi (khoảng 30-40g/ngày) nấu nước uống làm cho ra sữa hoặc thêm sữa. Cũng có thể dùng dái mít (cụm hoa đực) hay quả non sắc uống để tăng tiết sữa.

Chữa tưa lưỡi trẻ em: dùng lá mít vàng, phơi cho thật khô, đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa 2-3 lần/ngày, tối một lần.

Trẻ đái ra cặn trắng: lấy 20-30g lá già của cây mít mật thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống.

Chữa hen suyễn: lấy lá mít, lá mía và than tre (3 thứ bằng nhau) sắc uống.

Ngoài ra, trong dân gian người ta còn lấy lá mít tươi đem giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ giảm sưng đau. Hoặc dùng lá mít khô nấu cô đặc thành cao, bôi lên vết lở loét sẽ mau khỏi.

–    Dùng nhựa mít làm thuốc: vỏ cây mít có nhiều nhựa cũng thường được dùng làm thuốc chữa nhọt vỡ mủ. Hoặc có thể dùng nhựa mít trộn với giấm ăn, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy sẽ mau khỏi.

–    Dùng gỗ mít làm thuốc: Gỗ mít tươi đem mài lên miếng đá nháp, hoặc chỗ nháp của trên bát, có thêm ít nước (nước sẽ vẩn đục cho chất gỗ và nhựa mít) ngày uống từ 6-10g gỗ mít mài làm thuốc an thần, chữa tăng huyết áp hay những trường hợp co quắp. Hoặc dùng 20g gỗ (hay vỏ thân gỗ) phơi khô, chẻ nhỏ, sắc với 200ml còn 50mg, uống một lần trong ngày có tác dụng an thần.

Ngoài ra, quả mít chín còn là thức ăn bổ dưỡng, múi mít chín vàng óng đẹp mắt, ăn rất thơm ngon, có tác dụng long đờm. Khi say rượu nếu ăn vài múi mít chín sẽ có tác dụng giã rượu, tỉnh rượu ngay.

Tác dụng chữa bệnh của mít, anh đào và bơ như thế nào

Tác dụng chữa bệnh của mít, anh đào và bơ như thế nào

2. ANH ĐÀO

Anh đào là cây gỗ nhỏ cao 5-10m, có vỏ xám, lốm đốm các lỗ khí hay hình trái xoan. Lá sớm rụng, mỏng, nhẵn, hình trái xoan hoặc thuôn – ngọn giáo, tròn hoặc hơi thon hẹp lại ở gốc, có mũi nhọn sắc, mép có răng cưa, với răng đơn hay kép, tận cùng là một tuyến nâu, dài 5-12cm, rộng 2,5-5cm; cuống lá nhẵn, dài 8-15mm, có 2-4 tuyến dạng đĩa ở chóp có cuống hay không. Hoa màu hồng, xuất hiện trước khi có lá thành cụm hoa bên gần như dạng tán thường có 3 hoa. Quả hach hình cầu hay dạng trứng, rộng 10-12mm, màu đỏ, có hạch cứng với vách dày. Cây ra hoa tháng 12 đến tháng 1 và có quả từ tháng 2 đến tháng 4-5.

Cây anh đào thường gặp ở miền Bắc Việt Nam trong những vùng núi cao của Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, tới Ninh Binh, rất thông thường ở núi cao tỉnh Lào Cai và được trồng nhiều nhất là ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cây anh đào chính thức không có ở nước ta. Ta có nhập trồng một số loài Anh đào của Nhật Bản cũng thuộc chi Prunus.

Thành phần hoá học: Nhân hạt chứa amydaiin, plunasetin (isoflavon), sakurametin, pudumetin (flavon). Vỏ cây chứa flavonon glucosid là sakuranin và chacol glucosid một neosakuranin.

Công dụng:

Quả có vỏ quả khá dày, thịt đỏ, mọng nước, mùi dễ chịu, có thể ăn được và chế rượu uống, người ta đã chế ra loại rượu anh đào của Đà Lạt. Ở ấn Độ các cành nhỏ được dùng để thay thế acid hydrocyanic; nhân hạt dùng làm thuốc trị sỏi và sỏi thận.

3. Bơ

Quả bơ là cây gỗ cao tới 15m. Lá xoan, thuôn hay bầu dục, dài 6-25 cm, rộng 3,5-15cm, nhọn góc ngắn ở gốc, có mũi nhọn hay tù ngắn ở chóp. Cụm hoa thành chuỳ dày đặc. Hoa nhỏ, màu xanh lục hay vàng vàng; đài hơi có lông mịn. Quả mọng lớn, nạc, dạng quả lê, hình trứng hay hình cầu, màu lục hay màu mận tía khi chín; thịt mềm, màu vàng lục, có một hạt to với lá mầm nạc.

Loài cây của miền nhiệt đới châu Mỹ, cũng được trồng ở các xứ nhiệt đới khác, ở Antilles và California (Mỹ). Bơ được trồng nhiều nhất và cho sản lượng cao. Phi Châu và Israel là vùng sản xuất nhiều thứ hai và cung cấp sản phẩm cho châu Âu, có các giống chính là Mêhicô, Guatemala và Antilles. Ở nước ta nhập trồng từ đầu thế kỷ 20. Hiện nay vùng sản xuất chính là Lâm Đồng và các tỉnh khác vùng Tây Nguyên.

Thành phần hoá học: Trong quả bơ chứa nước 60%; protid 2,08%, lipid 20,10%, glucid 7,40%, tro 1,26%, nghèo về chất khoáng; các aminoaacid là: cystin, trytophan; có nhiều chất kháng sinh. Còn có vitamin A, B và C (19-20mg%).

Tác dụng:

Quả bơ là một loại thức ăn gần đầy đủ, rất dễ tiêu hoá, làm cân bằng thần kinh. Còn có tác dụng chống tăng độ acid của nước tiểu.

Công dụng:

  1. Mới ốm dậy, có thai
  2. Làm việc quá sức, trạng thái thần kinh dễ kích thích
  3. Thừa acid niệu
  4. Đau dạ dày – ruột, gan – mật.

Có thể dùng quả chín để ăn, hoặc chế biến thành những món thức ăn khác nhau, như trộn với nước chanh, cho thêm đường sữa vào đánh đều thành kem để ăn. Lá cũng đươc dùng hãm uống để trừ ngộ độc do ăn uống.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng