Công dụng chữa bệnh của mít tố nữ, mơ và na

0
Cập nhật lần cuối

Hạt mơ dùng trị ho khó thở, tức ngực đờm nhiều, huyết hư, khô tân dịch, đại tiện khó do bị táo nhiều ngày. Ngày dùng 4,5-9g, dạng thuốc sắc.

Chữa bệnh với mít tố nữ, mơ và na

1. MÍT TỐ NỮ

Mít tố nữ là cây gỗ nhỏ cao 5-10m, cành non có lông phún, nhiều lá bầu dục, thon ngược, nguyên (có 3 thùy ở lá những cây con) có lông dài và nhám ở gân và mép lá. Cụm hoa đực (dái mít) ở những nhánh nhỏ. Cụm hoa cái (quả) dài 20-30cm, rộng 10cm, múi mít dính vào cùi và dễ tách rời khỏi bì, nạc dày, màu vàng, mềm và thơm đậm, hơi gắt. Hoa quả quanh năm.

Loài cây phân bố ở Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Tân Ghinê. ở nước ta, cây được trồng ở các tỉnh phía Nam, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bến Tre và ngày nay cũng được trồng ở nhiều vùng khác.

Khi rọc vỏ quả mít theo chiều dọc, rồi rút cuống ra các múi mít dính vào cùi như một chùm trái cây màu vàng. Cũng có loại mít tố nữ có múi nhiều, ít xơ, lại có loại quả toàn là xơ, lơ thơ có vài ba múi bám vào cùi.

Tác dụng: Lá lợi sữa, gỗ an thần, hạ huyết áp.

Tham khảoNgộ độc thực phẩm do những loại vi khuẩn nào gây ra?

Chữa bệnh với mít tố nữ, mơ và na

Chữa bệnh với mít tố nữ, mơ và na

2. Mơ

Quả mơ là loại cây nhỡ rụng lá cao 5-6m, cành non màu nâu hồng; lá non thường cuộn lại, lá hình trứng dài, đầu có mũi nhọn ngắn, gốc hình tim hay tròn, mép lá có răng cưa rất bé, mặt dưới lá nhẵn, có khi có lông ở nách gân. Hoa mọc đơn độc, có cuống ngắn, màu trắng, đài hình ống, 5 thùy, tràng 5, màu trắng, nhị nhiều, xếp 2 vòng. Quả hạch hình cầu, phủ lông tơ, màu lục hoặc vàng, đỉnh quả có mũi nhọn, hạt nhẵn, hình thấu kính, màu nâu. Hoa tháng 2-3, thường ra lá trước khi nở hoa, quả chín tháng 5-6.

Cây trồng để lấy quả làm ô mai, chế rượu và gỗ dùng làm đồ mỹ nghệ. Thu hái quả vào mùa hạ, dùng tươi hay muối phơi khô làm thành ô mai, bạch mai.

Thành phần hóa học: Quả chứa các acid hữu cơ: citric tartric, carotenoid, lycopin, a-carotein, các flavonoid quercetin, isoquercetin, các vitamin A, B1, 5. Hạt chứa 35-40% dầu béo, dầu ethereal amygdalin, và các men emulsin, amygdalase, prunase.

Tác dụng: Hạt có vị đắng, tính ôn, có ít độc; có tác dụng giáng khí, chỉ khái, bình suyễn, nhuận trường, thông tiện. Quả có tác dụng kháng khuẩn, nhuận phổi; ở ấn Độ, được xem như nhuận tràng và hạ sốt. ô mai (vị chua) và bạch mai (vị chua, mặn) tính mát; có tác dụng chỉ khát, sinh tân dịch.

Công dụng: Hạt dùng trị ho khó thở, tức ngực đờm nhiều, huyết hư, khô tân dịch, đại tiện khó do bị táo nhiều ngày. Ngày dùng 4,5-9g, dạng thuốc sắc. Quả thường dùng làm thuốc thay vị ô mai là quả của cây mai – Prunus mume. Quả mơ muối dùng chữa ho khó thở, viêm họng, khản tiếng, lỵ, ỉa chảy kéo dài, giun đũa. Ngày dùng 4-8g, ngậm hoặc sắc uống. Dầu hạt mơ làm thuốc bổ, nhuận tràng. Dùng ngoài làm thuốc bôi tóc. Ngày dùng 5-15ml dạng thuốc sữa.

3. NA

Cây na cao 2-8m, vỏ có nhiều lỗ bì nhỏ, tròn, trắng. Lá hình mũi mác, tù hay nhọn, hơi mốc mốc ở phần dưới, hoàn toàn nhẵn, thường là mềm, dài 10cm, rộng 4cm, có 6-7 cặp gân phụ. Hoa nhỏ, màu xanh lục, mọc đối với lá, có cuống dài 2-3cm. Hoa thường rũ xuống, có 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa ngoài hẹp và dày, các cánh hoa ở trong rất hẹp hoặc thiếu hẳn, nhiều nhị và nhiều lá noãn. Quả mọng kép, màu xanh mốc, gần như hình cầu, đường kính 7-10cm, có từng múi, mỗi múi ứng với một lá noãn. Thịt quả trắng. Hạt đen có vỏ cứng.

Gốc cây na ở quần đảo Angti, được đem vào trồng ở nước ta lấy quả ăn. Thịt quả mềm và thơm, ngọt, ngon nhất là na dai. Các bộ phận của cây có thể thu hái quanh năm, thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Trong quả có 72% glucose, 14,52% saccharose, 1,73% tinh bột, 2,7% protid và vitamin c. Trong lá có một alcaloid vô định hình, không có glucosid, lá xanh chứa 0,08% dầu. Hạt chứa 38,5-42% dầu, trong đó các acid béo (acid myristic, palmitic, stearic, arachidic, hexadecanoic và oleic) chiếm tỷ lệ lớn. Trong hạt có một alcaloid vỏ định hình gọi là anonain. Chất độc trong hạt và rễ là các glycerid và các acid có phân tử lớn, lá, vỏ và rễ chứa acid hydrocyanic, vỏ chứa anonain.

Tác dụng: Quả na vị ngọt, chua, tính ấm; có tác dụng hạ khí tiêu đờm. Quả xanh làm săn da, tiêu sưng. Hạt na có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng. Lá cũng có tác dụng kháng sinh tiêu viêm, sát trùng. Rễ cầm ỉa chảy.

Công dụng: Quả na dùng chữa đi lỵ, tiết tinh, đái tháo, bệnh tiêu khát. Quả xanh dùng chữa lỵ và ỉa chảy, quả na điếc dùng trị mụn nhọt, đắp lên vú bị sưng. Hạt thường được dùng diệt côn trùng, trừ chấy rận. Lá na dùng trị sốt rét cơn lâu ngày, mụn nhọt sưng tấy, ghẻ. Rễ và vỏ cây dùng trị ỉa chảy và trục giun.

Đơn thuốc:

  1. Đi lỵ ra nước không dứt: 10 quả na ương (chín nửa chừng) lấy thịt ra, còn vỏ và hạt cho vào 2 bát nước, sắc còn một bát, ăn thịt quả và uống nước sắc.
  2. Nhọt ở vú: Quả na điếc mài với dấm bôi nhiều lần.
  3. Sốt rét cơn lâu ngày. Vò một nắm lá (20-30g) giã nhỏ, chế thêm ước sôi vào vắt lấy một bát nước cốt, lọc qua vải, phơi sương, sáng hôm sau thêm tí rượu quấy uống trước lúc lên cơn hai giờ. Mỗi ngày uống một lần, uống liền 5-7 ngày.
  4. Mụn nhọt sưng tấy: Lá na, lá bồ công anh, cũng giã đắp.
  5. Giun đũa chòi lên ợ ra nước trong: Dùng một nắm rễ na mọc về hướng Đỏng, rửa sạch, sao qua, sắc uống thì giun ra.
  6. Trừ chấy, rận: Giã nhỏ hạt lấy nước gội đầu hay ngâm quần áo. Để trừ chấy, giã nhỏ hạt Na trộn với rượu hoặc giấm mà vò vào đầu, xát vào chân tóc, bịt khăn lại, giữ 15 phút rồi gội đầu. Tránh không cho va vào mắt vì có độc.
Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng